ETF vs. Quỹ mở cổ phiếu

1. Tâm sự

Cũng đã gần một năm kể từ khi tôi viết bài viết lần đầu tiên về quỹ mở (“Nên đầu tư quỹ nào?”), sau đó thì blog ngày càng nhận được nhiều view từ các bạn đọc hơn trước, chứng tỏ lượng người quan tâm đến đầu tư quỹ mở này ngày càng nhiều.

Hôm nay tôi sẽ cập nhật lại bài viết đó, tuy nhiên bây giờ tôi sẽ so sánh các quỹ mở cổ phiếu này với ETF chứ không phải là so sánh các quỹ mở với nhau nữa.

Lý do là hiện tại đang có phong trào đầu tư ETF và có nhiều bạn đọc quan hỏi han về ETF hơn các quỹ mở kia.

Trước đó, chúng ta (nhờ đọc sách hoặc xem youtube) đều cho rằng ETF ít phí nên hoạt động hiệu quả hơn các quỹ mở. Các quỹ mở phí cao và khó có thể đánh bại được thị trường vì thế nhà đầu tư nên đầu tư vào ETF cho nhẹ nhàng… hoặc những điều tương tự như vậy.

Tôi thì không thích nói suông nên mới tò mò đi xem thử coi có đúng không. Để lỡ sau này có ai hỏi thì biết đường trả lời.

Trong phạm vi bài viết này tôi tiến hành xem xét các quỹ sau:

Lý do tôi không chọn VND hay Finlead là vì dữ liệu không nhiều. Ngoài ra cũng có FUESSV50 nữa nhưng tôi lựa chọn E1VFVN30 do phổ biến hơn.

2. Phương pháp phân tích

Các loại chi phí quản lý đã phản ánh trong giá của chứng chỉ quỹ và cũng như các bài viết trước, tôi sẽ bỏ qua chi phí mua chứng chỉ quỹ lần đầu để đơn giản hóa vấn đề.

Đầu tiên là sẽ giả định cùng đầu tư ETF (mà ở đây là E1VFVN30) với quỹ mở cổ phiếu xem cái nào vượt trội.

Tôi biết so sánh như vậy không đúng do mỗi quỹ có phương pháp đầu tư và rủi ro khác nhau. Ta không thể đem quỹ có rủi ro cao (lợi nhuận kỳ vọng lớn) để so sánh với quỹ rủi ro thấp.

Nhưng ở góc nhìn của nhà đầu tư cá nhân thì họ sẽ luôn tìm đến các khoản đầu tư mang lại lợi nhuận nhiều nhất có thể cho họ.

Nếu quỹ A có tỷ suất sinh lợi cao hơn quỹ B thì nhà đầu tư cá nhân sẽ chọn quỹ A cho dù rủi ro có cao hơn. Vì thế mà trong các email quảng cáo quỹ luôn đề cập đến lợi nhuận, vốn là thứ mà các nhà đầu tư quan tâm đến. Còn rủi ro, độ lệch chuẩn… thì khó hiểu lắm bởi nó không phù hợp với đại chúng.

Tôi loại các quỹ lai (có đầu tư trái phiếu kèm cổ phiếu) do không phù hợp để so sánh trong bài này. Bởi vì các quỹ này luôn mang lại tỷ suất sinh lợi thấp hơn ETF, đó là do phong cách đầu tư an toàn của họ. Cho nên nếu nhìn một quỹ lai, ví dụ VCBF-TBF hay VIBF rồi nói thua ETF thì nó thật sự không phù hợp. Tôi không nói sai hay đúng do tôi chưa kiểm chứng.

Phương pháp trên có thể làm thỏa mãn đại đa số nhà đầu tư cá nhân muốn so sánh tỷ suất sinh lợi của các quỹ cổ phiếu với nhau… nhưng mà về bản thân tôi thì thấy chưa đủ.

Tôi suy nghĩ về việc tạo một danh mục kết hợp ETF với quỹ trái phiếu để hạ rủi ro (biến động giá) sao cho bằng với rủi ro của các quỹ kia rồi so sánh xem thế nào. Tuy nhiên, nó chỉ là ý tưởng phát sinh lúc viết đoạn kết cho bài này chứ chưa rõ hướng đi.

Về việc sử dụng dữ liệu

Giống như bài viết cũ tôi từng đề cập: nhiều quỹ không cập nhật thường xuyên mà lắc nhắc theo tuần, mỗi quỹ có thời điểm cập nhật giá khác nhau.

Vì thế tôi dành nhiều thời gian để suy nghĩ hướng đi cho hợp lý. Và cuối cùng quyết định sẽ sử dụng dữ liệu theo tháng thay vì tính trung bình cộng như bài viết cũ.

Ví dụ dữ liệu giá chứng chỉ quỹ BVPF:

Tôi sẽ sử dụng giá của ngày đầu tiên trong tháng (của tệp dữ liệu) và đặt cho nó là giá của chứng chỉ quỹ trong tháng đó. Kết quả được như sau:

Với phương pháp này thì có thể dễ dàng so sánh các quỹ hơn.

3. Đầu tư ETF và quỹ mở cổ phiếu cùng thời điểm

1/ Tôi tiến hành giả định đầu tư cùng một thời điểm quỹ E1VFVN30 với các quỹ mở cổ phiếu khác. Xuất biểu đồ lợi nhuận tích lũy xuyên suốt quá trình đầu tư.

2/ Biểu đồ Rolling returns, lợi nhuận của một chu kỳ đầu tư có quy năm. Thông thường các quỹ hay đăng tin lợi nhuận 3 tháng, 9 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm trước đó kể từ thời điểm báo cáo… Tôi không thể lấy con số đó đem đi so sánh vì nó không có nhiều ý nghĩa.

Biểu đồ rolling returns giúp tính lợi nhuận của một chu kỳ, ví dụ 12 tháng thì từ tháng 01/2010 tới 01/2011, rồi 02/2010 tới 02/2011, cứ liên tục lập mỗi tháng. Nó cho ta biết biến động như thế nào qua thời gian.

3/ Một cái bảng thống kê số tháng quỹ ETF mang lại lợi nhuận lớn hơn (hoặc thấp hơn) quỹ mở.

Vì có rất nhiều quỹ nên tôi sẽ tách ra phân tích riêng từng quỹ.


3.1 MBVF – Quỹ đầu tư giá trị MB Capital

Vì đây là quỹ đầu tiên, nên tôi sẽ viết chi tiết về các biểu đồ trong bài.

ETF e1vfvn30 và MBVF

Nếu cùng đầu tư một thời điểm từ tháng 10/2014 đến nay thì MBVF thua hoàn toàn so với ETF E1VFVN30.

Dù trải qua giai đoạn uptrend năm 2018 và giữa năm 2020 tới nay nhưng quỹ cũng không gặt hái được nhiều lợi nhuận.

Nếu giả định nhà đầu tư nắm giữ với chu kỳ 12 tháng thì:

Với biểu đồ Rolling returns này, thời điểm năm 2018 E1VFVN30 đạt lợi nhuận khoảng 60% thì có nghĩa rằng nhà đầu tư mua cách đó 12 tháng (tức 01/2017) và nắm giữ tới 01/2018 thì sẽ có lợi nhuận vào tầm 60%. Cứ thế tiếp tục tính 02/2017 đến 02/2018, 03/2017 đến 03/2018…

Lưu ý, dữ liệu E1VFVN30 95% trên biểu đồ là lợi nhuận của nhà đầu tư sau 12 tháng nắm giữ kể từ thời điểm tháng 07/2020. Không phải là lợi nhuận từ 2014 tới nay.

Rolling returns MBVF and ETF E1VFVN30

Với chu kỳ nắm giữ 12 tháng, ta thấy rằng có thời điểm quỹ MBVF mang lại lợi nhuận nhiều hơn E1VFVN30, như giai đoạn 2019 và cuối năm 2020. Tuy nhiên phần lớn quãng thời gian thì E1VFVN30 hoạt động hiệu quả hơn MBVF. Tôi sẽ thống kê số lần mà E1VFVN30 mang lại tỷ suất sinh lợi nhiều hơn MBVF ở cuối bài.

Tiếp đó, tôi giả định thời gian nắm giữ là 24 tháng, thậm chí 36 tháng vì có thể 12 tháng sẽ không có nhiều câu chuyện để kể.

Nếu đầu tư từ 03/2018 và nắm giữ đến 03/2020 thì nhà đầu tư ETF lỗ nhiều hơn MBVF tuy nhiên ngay sau đó thị trường quay lại thời kỳ uptrend, quỹ MBVF sau khi tăng trở lại thì bắt đầu “hụt hơi” và bị ETF bỏ xa.

Nếu nắm giữ 36 tháng thì:

Cho dù ta bắt đầu đầu tư ETF bất kỳ lúc nào từ quãng thời gian 10/2014 tới nay thì đều có lợi nhuận tốt hơn MBVF. Nhà đầu tư mua ETF tháng 07/2020 tới nay có lợi nhuận ~69%. Cùng thời điểm đó nếu mua MBVF thì chỉ lời ~34%.

Tôi đi xem thử báo cáo thì MBVF có giai đoạn đầu tư nắm giữ trái phiếu, nhưng tại báo cáo thời điểm mới nhất tháng 06/2021 thì:

Tiền chiếm 72% quỹ. Giống như giai đoạn 2018 trước đây, quỹ cũng toàn là tiền khi thị trường uptrend mạnh. Vì điều đó mà quỹ thua ETF E1VFVN30.

Tôi tạm kết luận rằng quỹ này phù hợp cho nhà đầu tư cực kỳ e ngại rủi ro, tuy nhiên cái giá đánh đổi


3.2 TCEF – Quỹ cổ phiếu của Techcombank


3.3 BVFED – Năng động Bảo Việt


3.4 BVPF – Triển vọng Bảo Việt


3.5 VEOF – Cổ phiếu Hưng Thịnh VinaCapital


3.6 VNDAF – VnDirect


3.7 ENF – Eastspring


3.8 SSISCA


3.9 VCBF-BCF – Quỹ cổ phiếu hàng đầu VCBF


3.10 DCDS (là VFMVF1)


3.11 DCBC (là VFMVF4)


3.12 MAFEQI – Quỹ cổ phiếu Manulife


4. Kết quả

*Nếu như bạn đọc thấy số liệu trên bảng có vẻ khác so với số liệu mà quỹ đưa ra, thì nhớ rằng mình giả định thời gian đầu tư cùng lúc so với quỹ ETF. Ví dụ DCDS (VFMVF1) thành lập từ lâu, nhưng vì để phân tích với ETF E1VFVN30 nên phải bắt đầu tính từ tháng 10/2014.


Bảng trên là thống kê (chỉ ở mức tương đối) về số lần (số tháng) mà quỹ ETF mang lại lợi nhuận tốt hơn quỹ mở cổ phiếu. Lợi nhuận quy năm của quỹ càng lớn thì tỷ lệ của quỹ chiến thằng ETF càng cao. Trong đó có thể tạm kết luận 3 quỹ DCDS, VCBF-BCF và ENF là hoạt động hiệu quả nhất.

Mặc dù đây là dữ liệu trong quá khứ, không thể dùng có để phán đoán tương lai tuy nhiên theo bài viết Đầu tư quỹ mở cổ phiếu: Chạy theo lợi nhuận trong quá khứ? mà tôi từng viết thì các quỹ như DCDS này lại có lịch sử đánh bại thị trường liên tục mà không hề có dấu hiệu “yếu” đi.

Tóm lại: Nếu bạn có ý định đầu tư quỹ mở nào đó dài hạn và cho rằng nó tốt hay là nó sẽ mang lại lợi nhuận lớn hơn thị trường, đánh bại các loại ETF thì có thể nhìn bảng trên. Số lượng quỹ mở cổ phiếu chiến thắng ETF E1VFVN30 rất ít ở hiện tại và tôi cho rằng trong tương lai sẽ không có nhiều quỹ mở có khả năng đánh bại ETF nữa.

Hy vọng thông tin trong bài viết này có thể giúp ích cho các bạn đọc.


Lưu ý: Tôi không làm việc cho các quỹ trên và cũng như các bài viết khác thì bài viết này nên được nhìn nhận là một bài viết cung cấp thông tin chứ không phải khuyến nghị đầu tư. Các nhà đầu tư cá nhân nên liên hệ quỹ để họ tư vấn về kế hoạch đầu tư của bản thân.

Đây là bài viết số 27, mọi dữ liệu về bài viết tôi lưu tại:

https://github.com/vhoanghac/blog

12 Comments ETF vs. Quỹ mở cổ phiếu

  1. David Tran

    Dear Hạc,

    Tình cờ biết blog này của em qua Google, anh đã bỏ một đêm đọc gần hết bài viết của em từ 2018. Nhân dịp em viết bài so sánh này giữa ETF và Quỹ mở (và đã từng viết bài so sánh các Quỹ mở với nhau), em có thể nghiên cứu viết tiếp một bài so sánh giữa các ETF với nhau không?

    Trân trọng.

    Reply
  2. Anon

    Hello anh Hạc, cho em xin hỏi làm thế nào mình có thể tự mình đánh giá, so sánh các quỹ như cách anh đang làm ?

    Reply
  3. Võ Duy

    Hello anh Hạc,
    Em có tìm hiểu trên mạng cách tính giá trị FV, PV, N, Interest, Payment… Nhưng em chưa rõ cách tính khi mình top up một khoản định kỳ hàng tháng, thì FV mình sẽ có thể đạt được như thế nào ạ? Vì các cách tính tìm hiểu được theo em biết là gộp theo “the end of year” rồi mới compounded năm tiếp theo. Anh có thể hướng dẫn cách tính khi biết PV, n, interest/yearly, payment monthly >>> FV được không ạ?
    Cám ơn anh!

    Reply
    1. Hạc

      Umm mình không hiểu mục đích của bạn lắm.

      Nếu bạn dùng Excel thì có hàm FV để bạn tính rồi: https://support.microsoft.com/vi-vn/office/s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-c%C3%B4ng-th%E1%BB%A9c-excel-%C4%91%E1%BB%83-t%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-thanh-to%C3%A1n-v%C3%A0-ti%E1%BA%BFt-ki%E1%BB%87m-11cb708f-c137-4ef8-bcf3-5137aaeb4b20

      Nó dựa theo công thức: FV = PMT x (((1 + interest)^N – 1) / interest)

      Ví dụ của bạn nằm ở cuối trang.

      Reply

Leave a Reply

Your email address will not be published.